Đăng ký: Viết bài nhận thưởng

Quả đào phai dưỡng da, nhuận tràng, sinh tân, giảm khô khát

Quả đào phai

Cây đào phai, từ hoa, lá, quả cho đến nhân hạt, nhựa cây và rễ cây đều có thể dùng làm thuốc.

Trong đó, quả đào có ý nghĩa đặc biệt đối với chị em phụ nữ: không chỉ là hình ảnh ví von cho vẻ đẹp “mơn mởn đào tơ” mà còn giúp phụ nữ làm đẹp, cụ thể là dưỡng da.

Nếu như ở Tây Nguyên, quả bơ là nguyên liệu làm đẹp tuyệt vời cho chị em phụ nữ bằng cách dầm nát thịt quả bơ chín rồi thoa đều toàn thân thì ở miền Bắc, quả đào cũng là dưỡng chất tự nhiên giúp làm sạch và mịn da hiệu quả.

Quả đào phai, nguồn dưỡng chất đa dạng và tác dụng dưỡng da

Cách dùng quả đào phai dưỡng da rất đơn giản: bạn chỉ cần chọn quả đào chín, cạo lớp thịt mềm sát vỏ rồi dầm nát, thoa một lớp mỏng lên da là được. Sau 15 phút, bạn rửa lại với nước thì sẽ cảm nhận được ngay cảm giác mát mịn dễ chịu từ da (mỗi tuần đắp hai lần sẽ giúp nuôi dưỡng da từ bên ngoài một cách tự nhiên).

Quả đào chín

Quả đào chín

Có được điều này là nhờ trong thịt quả đào phai không chỉ chứa nhiều nước, tinh dầu thơm (tạo nên hương vị đặc trưng của quả) mà còn chứa đường, chất đạm, chất béo và các axit hữu cơ (như xitric, tactric, axit clorogenic, axit pectic…), các vitamin như B1, B2, C…, tanin và các khoáng chất như Sắt, Can xi, Na tri, Đồng, Ma giê…

Đặc biệt, từ thịt quả đào, ta còn có thể chưng cất để lấy tinh dầu đào (với mùi hương rất dễ chịu).

Tinh dầu đào

Tinh dầu đào

Không chỉ là loại quả giàu năng lượng, theo y học cổ truyền, quả đào phai còn:

  • Thông vào kinh Vị và Đại tràng, giúp ích vị, dễ tiêu, nhuận tràng và giảm táo bón.
  • Giúp sinh tân, điều trị chứng miệng khát, khô cổ họng.
  • Giúp lợi tiểu, tốt cho người bị sỏi tiết niệu và tiểu ra máu.

Cách dùng: ăn quả đào chín tươi hoặc hấp chín rồi ăn (1) (2).

Công dụng của lá đào và rễ đào phai

Lá cây đào phai

Theo y học cổ truyền, lá đào phai có vị đắng và hơi độc vì có chứa HCN (nhưng lại có tính sát trùng). Vì vậy, dân gian thường chỉ lấy lá đào phai dùng ngoài da và ngay cả khi dùng ngoài da thì cũng rất cẩn trọng về liều lượng.

Có thể kể đến một số trường hợp dùng lá đào phai làm thuốc như:

  • Điều trị ghẻ ngứa, mẩn ngứa, viêm kẽ chân và sởi: lấy lá tươi rửa sạch rồi nấu nước tắm.
  • Điều trị sưng tấy da: lấy một ít lá đào phai tươi, một ít lá cỏ roi ngựa và lá cà tím (liều lượng bằng nhau), tất cả đem rửa sạch, giã nát rồi đắp lên chỗ sưng.
  • Điều trị nổi mề đay: lấy nửa ký lá đào phai rửa sạch, băm nhỏ ra, ngâm trong rượu gốc (cồn 500 ml) khoảng 24 – 48 tiếng rồi lược xác bỏ, lấy nước ấy thoa lên vùng da bị nổi mề đay (mỗi ngày thoa hai hoặc ba lần).
  • Điều trị ngứa âm hộ: lấy 30 g lá đào phai (lá tươi), 20 hạt tiêu, 25 g lá bạch đàn tươi (tức lá khuynh diệp), 50 g vỏ rễ cây lựu (vỏ tươi), 30 g hoàng bá (tươi) và 30 g vỏ cây xoan; tất cả đem rửa sạch, cho vào nồi nấu sôi rồi vớt bỏ xác, sau đó cho thêm một ít băng phiến vào, đợi nguội thì lấy nước ấy ngâm rửa bên ngoài (lưu ý chỉ dùng ngoài da) (1) (2).

Rễ cây đào phai

Y học cổ truyền đã ghi nhận rễ cây đào phai là vị thuốc không có độc, có tính bình và được dùng với các công dụng như:

  • Giúp hành huyết, điều trị bế kinh.
  • Điều trị thổ huyết, chảy máu cam.
  • Điều trị vàng da (hoàng đản).
  • Điều trị ung thũng.

Cách dùng: lấy từ 76 g – 114 g rễ cây đào phai, rửa sạch rồi nấu lấy nước uống trong ngày.

Ngoài ra, dân gian cũng ghi lại bài thuốc điều trị chứng phụ nữ kinh nguyệt không thông liên tục nhiều năm liền khiến cho da dẻ vàng vọt, bụng xuất hiện khối u và sắc môi trắng bệch.

Thành phần bài thuốc bao gồm: 0,6 kg rễ cây đào phai; 0,6 kg rễ cây mã tiên thảo; 1,2 kg ngưu tất; 0,6 kg rễ ngưu bàng.

Cách dùng: lấy các vị trên rửa sạch, chặt nhỏ ra rồi cho vào ấm, sau đó đổ thêm 6 lít nước, nấu sôi cho đến khi cô đặc lại còn 2 lít thì tắt bếp và vớt bỏ xác.

Liều lượng: mỗi lần uống 15 g nước thuốc, mỗi ngày uống hai lần, uống trước khi ăn và uống bằng nước rượu ấm nóng (1) (2).

Nguồn tham khảo
  1. Nhiều tác giả, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 1, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2004, trang 743.
  2. Nguyễn Văn Đàn – Vũ Xuân Quang – Ngô Ngọc Khuyến, Cây hoa chữa bệnh, NXB Y học, 2005, trang 108.

Nếu thấy bài viết trên có ích, các bạn hãy chia sẻ trên Facebook cho người thân và bạn bè mình biết nhé. Cảm ơn bạn!


*Lưu ý: Tác dụng của sản phẩm có thể tùy thuộc vào cơ địa mỗi người

*Giá trên chưa bao gồm phí vận chuyển Bưu điện, tham khảo Giá cước vận chuyển

Gửi thuốc toàn quốc, giao thuốc tận nơi <---> Nhận thuốc rồi mới thanh toán tiền.

XEM THÊM

Gửi câu hỏi cần giải đáp:

Hỏi B.sĩ
GỌI
Messenger