Tải ngay: App cây thuốc Android

Qua lâu bì, qua lâu nhân điều trị đau tức ngực, phù thũng và táo bón

Quả qua lâu (chưa chín)

Trong các cây thuốc Đông y thì có một loại dây leo mà quả non của nó rất giống với quả dưa hấu, đó là qua lâu. Nếu chỉ nhìn sơ qua, có lẽ bạn sẽ thắc mắc sao ai lại để dưa hấu bò giàn thế này! Thật vậy, không chỉ quả mà dây và lá của nó cũng rất giống với các loại dây leo thuộc họ Bầu bí khác.

Đặc biệt, khi quả qua lâu chín, chim chóc thường ăn phần thịt quả vì chúng có vị chua ngọt. Ở Trung Quốc, qua lâu thường được gọi là quát lâu (栝楼) và cả quả, hạt, rễ của nó đều có thể dùng làm thuốc.

Quả qua lâu và qua lâu bì có tác dụng gì?

Quả qua lâu: Nếu trồng qua lâu để chuyên lấy quả làm thuốc, người ta sẽ để lại tất cả bông hoa thay vì hái bỏ (để dây nuôi rễ và lấy rễ làm thuốc). Khi những quả qua lâu chín, chúng được thu hái rồi đem về phơi khô, gọi là qua lâu quả (nếu chỉ tách lấy phần vỏ quả thì gọi là qua lâu bì).

Nhìn chung, quả qua lâu tương đối giòn, dễ vỡ và có vị chua ngọt. Trong y học cổ truyền, người ta thường dùng quả qua lâu để điều trị táo bón và giúp nhuận tràng.

Cách dùng như sau: lấy 15 g quả qua lâu, bẻ nhỏ rồi nấu uống cùng 3 g cam thảo Bắc. Sau khi uống thuốc, bạn nên lấy thêm một ít mật ong (khoảng 30 g), hòa với cháo loãng rồi ăn, như vậy thì bệnh sẽ mau hết hơn (2) (3).

Qua lâu bì

Qua lâu bì

Qua lâu bì: là lớp vỏ của quả qua lâu. Lớp vỏ này có vị ngọt đắng, tính lạnh và có tác dụng nhuận phổi, nhuận trường. Trong Đông y, qua lâu bì thường được biết đến với nhiều công dụng như:

  • Điều trị ho, sốt nóng có đờm.
  • Điều trị thổ huyết, chảy máu cam.
  • Điều trị đau cuống họng, háo khát.
  • Điều trị đau tức ngực, đau vú.
  • Điều trị bí đại tiện, phù thũng, vàng da.

Cách dùng: Mỗi ngày, lấy 9 đến 12 g qua lâu bì, nấu lấy nước uống (2) (3) (4).

Hạt qua lâu (qua lâu nhân) có tác dụng gì?

Hạt qua lâu được gọi là qua lâu tử hay qua lâu nhân. Đó là những hạt già đã được phơi khô và có vị ngọt, hơi đắng (trong hạt chứa nhiều dầu béo).

Hạt qua lâu (qua lâu nhân)

Hạt qua lâu (qua lâu nhân)

Theo y học cổ truyền, qua lâu nhân thường được dùng để tả hỏa, hạ khí và hạ sốt vì có tính lạnh. Ngoài ra, qua lâu nhân còn có tác dụng:

  • Nhuận tràng, điều trị táo bón.
  • Nhuận phổi, long đờm.
  • Điều trị bệnh phổi, ho có đờm, đờm đặc tức ngực.
  • Điều trị thổ huyết.
  • Giúp lợi tiểu, lợi sữa, sát khuẩn và hạ sốt.

Liều lượng: Mỗi ngày, lấy từ 9 – 12 g qua lâu nhân sắc uống. Ở đây, cũng cần nói đến cách sơ chế qua lâu nhân: Thông thường, sau khi phơi khô, chúng ta có thể lấy qua lâu nhân nấu uống, tuy nhiên, để mang lại hiệu quả cao hơn, chúng ta có thể lấy qua lâu nhân sao nhẹ lên hoặc khử dầu (2) (3) (4).

Cách khử dầu qua lâu nhân như sau:

Lấy hạt qua lâu, tách bỏ vỏ rồi nghiền mịn nhân hạt, sau đó bọc lại bằng giấy thấm dầu và sấy nhẹ (sấy nóng). Sau đó, chúng ta tiếp tục nén ép cho dầu thấm ra giấy rồi nghiền mịn, rây lại thì sẽ thu được qua lâu nhân sương (2).

Một số bài thuốc kết hợp qua lâu bì

  • Điều trị viêm cổ họng mất tiếng: dùng qua lâu bì, cam thảo Bắc và bạch cương tàm (mỗi vị 10 g), sắc chung với củ gừng tươi (4 g). Với thang thuốc này thì các bạn có thể nấu với 600 ml nước, khi thấy nước rút còn 1/ 3 thì chắt lấy và chia thành hai lần uống trong ngày (3).
  • Điều trị viêm màng phổi do lao: dùng 8 g qua lâu nhân, 16 g huyền sâm, 16 g sài hồ, 16 g hạ khô thảo, 8 g tang bạch bì, 8 g bán hạ (chế) và 8 g chỉ xác, nấu lấy nước uống mỗi ngày một thang (4).
  • Điều trị chứng đau vùng tim: lấy 20 g qua lâu nhân, 12 g củ hẹ, 12 g vỏ quả chanh (quả già) và 12 g nhân hạt đào, nấu lấy nước uống trong ngày (4).
  • Điều trị viêm tắc động mạch: Bài thuốc gồm các thành phần sau: qua lâu nhân, ngưu tất, kim ngân hoa, xích thược (mỗi vị 16 g), cam thảo Bắc, đương quy (mỗi vị 20 g), binh lang (hạt cau) và chỉ xác (mỗi vị 8 g), đan sâm, huyền sâm, đan bì và đào nhân (mỗi vị 12 g), tất cả cùng cho vào ấm và nấu uống trong ngày (4).

Lưu ý

  • Đối tượng cần tránh: Những người tỳ vị hư hàn (và không có thực nhiệt) thì không được dùng qua lâu bì và qua lâu nhân (2).
  • Tương kỵ: Không được dùng qua lâu bì, qua lâu nhân cùng với ô đầu (thảo ô) vì các vị này tương phản nhau (2).
  • Về qua lâu nhân: Trên thực tế, qua lâu nhân không chỉ được lấy từ hạt của dây qua lâu Trichosanthes kirilowii mà còn được lấy từ hạt của dây Trichosanthes multiloba (cũng thuộc họ Bầu bí).
Nguồn tham khảo
  1. Qua lâu, https://vi.wikipedia.org/wiki/Qua_l%C3%A2u, ngày truy cập: 12/ 04/ 2020.
  2. Phạm Thiệp – Lê Văn Thuần – Bùi Xuân Chương, Cây thuốc bài thuốc và biệt dược, NXB Y học, 2000, trang 231.
  3. Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Y học, 1999, trang 629.
  4. Nhiều tác giả, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 2, NXB Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, 2004, trang 530.

Nếu thấy bài viết trên có ích, các bạn hãy chia sẻ trên Facebook cho người thân và bạn bè mình biết nhé. Cảm ơn bạn!


*Lưu ý: Tác dụng của sản phẩm có thể tùy thuộc vào cơ địa mỗi người

*Giá trên chưa bao gồm phí vận chuyển Bưu điện, tham khảo Giá cước vận chuyển

Gửi thuốc toàn quốc, giao thuốc tận nơi <---> Nhận thuốc rồi mới thanh toán tiền.

XEM THÊM

Gửi câu hỏi cần giải đáp:


GỌI
Messenger
Hỏi B.sĩ
エロ動画 วิดีโอเอ็กซ์ أنبوب الجنس العربي