Tin sét: Viết bài nhận thưởng ngay

Mai mực (ô tặc cốt) và bài thuốc hay từ phần bỏ đi của con mực

Công dụng của mai mực
  • Tên khác: Mai mực tức nang mực, ô tặc cốt, hải phiêu tiêu…
  • Tên khoa học: Sepia esculenta, thuộc họ mực.
  • Bộ phận dùng: Khung xương con cá mực.
  • Tính vị: có vị mặn, tính ôn, tác dụng và các cơ quan gan, thận.
  • Công dụng chính: Cầm máu, bạch đới, kinh nguyệt không đều, rong kinh kéo dài, loét âm đạo, bỏng, đại tiện ra máu…

Quê tôi là miền đất biển nên có nhiều công ty thủy sản. Sau mỗi lần họ làm hàng mực, các phụ phẩm từ mực đem bỏ đi rất nhiều, trong đó có mai mực (tức nang mực, ô tặc cốt, hải phiêu tiêu…). Tuy nhiên, chỉ có vài người biết dùng mai mực và xin một ít đem về.

Mai mực, người dân quê tôi hiểu theo cách nôm na là cái khung xương cho con mực, giúp nó cố định khung hình theo bề ngang vì khi rút miếng nang ra, toàn thân con mực nhũn nhặn như miếng cao su vậy. Tuy nhiên, trên thực tế, nang mực không phải là xương con mực (mực là động vật thân mềm) mà là lớp vỏ trong của con mực, được cấu tạo bằng đá vôi xốp và lớp sừng mỏng bên ngoài.

Sau khi lấy mai mực về, người ta rửa sạch, đem phơi thật khô và để dùng dần. Thông thường, mai của loài mực nang được dùng nhiều hơn vì nó to và tiện dụng hơn (mai nhỏ khó cầm, khô giòn và rất dễ gãy). Cầm một miếng mai to bằng bàn tay, muốn bào hay cạo lấy bột cũng dễ.Con mực tươi

Công dụng của mai mực

Mai mực trong ăn uống hàng ngày

Ô tặc cốt (mai mực) tán bột có màu trắng như bột phấn, được dùng với công dụng làm dai thức ăn (như hàn the). Đặc biệt, sương sâm và ô tặc cốt được xem là “một cặp bài trùng”. Có thêm ô tặc cốt, sương sâm dai sánh và ăn ngon hơn nhiều.

Cách làm: Sau khi vò sâm và lọc nước qua rây, lấy dao hoặc muỗng cạo miếng mai mực sẽ thu được thứ bột màu trắng đục (lưu ý cạo bỏ lớp vỏ ngoài của miếng mai). Sau đó, tán bột cho thật mịn rồi vừa khuấy nước sâm vừa rắc bột mai mực vào (khuấy theo vòng tròn và rắc khoảng nửa muỗng cà phê cho hai lít sương sâm hoặc tùy theo sở thích, tuy nhiên nếu cho nhiều bột mai mực quá thì thạch sương sâm sẽ bị cứng).

Mai mực và công dụng làm thuốc

Mai mực (ô tặc cốt) có vị mặn, tính ôn. Khi dùng làm thuốc, người ta cạo bỏ lớp vỏ sừng cứng ở bên ngoài và dùng phần còn lại (tán bột).

  • Giúp cầm máu: lấy một ít ô tặc cốt tán thành bột (liều lượng vừa đủ) rồi rắc lên vùng da bị thương.
  • Điều trị mờ mắt, phụ nữ bị bế kinh, băng huyết, xích bạch đới và trẻ em chậm lớn: mỗi ngày uống từ 4 – 8 g bột mai mực, dùng liên tiếp một tuần thì ngưng một tuần, sau đó, nếu có nhu cầu thì tiếp tục dùng theo liệu trình trên (1).
Mai mực khô

Mai khô

Một số bài thuốc kết hợp có dùng mai mực

  • Điều trị thổ huyết: lấy mai mực (ô tặc cốt) tán thành bột và uống (mỗi lần uống từ 1 – 2 g, mỗi ngày uống 4 lần và uống bằng nước cơm – nước cơm chắt được khi nấu cơm) (1).
  • Lỗ tai mưng mủ: lấy 2 g ô tặc cốt và 0, 4 g sạ hương, tán mịn, trộn đều, sau đó lấy tăm bông chấm vào thuốc bột và ngoáy, chấm vào lỗ tai hoặc chỗ bị mủ (1).
  • Viêm loét âm hộ: lấy mai mực đốt tồn tính (không đốt cháy hoàn toàn mà chỉ cho cháy lớp ngoài, chừng 70 %) rồi tán bột, trộn với lòng đỏ trứng gà (vừa đủ thấm bột) và bôi lên chỗ bị loét (rửa sạch trước khi bôi) (1).
  • Đại tiện ra máu: lấy ô tặc cốt nướng vàng, tán thành bột rồi uống (từ 4 – 8 g mỗi ngày), lưu ý nên uống bằng nước sắc cây mộc tặc (để chiêu thuốc) (2).
  • Điều trị bỏng: lấy mai mực đốt thành than, tán bột rồi trộn với dầu dừa để bôi lên vùng da bị bỏng (nếu không có dầu dừa thì có thể dùng dầu mè). Với bài thuốc này, kiên trì dùng trong 1 tuần sẽ thấy hiệu quả (2).
  • Điều trị thở gấp, khò khè do đờm: lấy mai mực sấy khô, tán thành bột rồi uống với một ít đường đỏ (mỗi ngày uống hai lần, mỗi lần 15 g) (2).
  • Điều trị cam tẩu mã: Cam tẩu mã “ăn mặt người” một trong những là căn bệnh ám ảnh của thế kỷ XXI. Bài thuốc sau đây có thể dùng cho bệnh này, đồng thời cũng áp dụng được trong trường hợp bị loét mũi và viêm tai chảy nước.

Thành phần: Bài thuốc gồm mai mực, thanh đại (bột chàm), hoàng liên, nhân trung bạch, hồng đơn, ngũ bội tử, tế tân (mỗi vị 12 g), phèn phi (8 g) và mai hoa (4 g).

Cách dùng: lấy các vị trên sao lên, lưu ý sao riêng từng loại (riêng các vị thanh đại, hồng đơn và mai hoa thì không sao). Sau đó, tán mịn các vị trên rồi trộn đều lại. Khi dùng, lấy bột rắc vào vùng da bị lở loét (rắc thường xuyên để thấy hiệu quả) (2).

Lưu ý

  • Người âm hư, đa nhiệt không dùng được ô tặc cốt (1).
  • Nếu để ý thì thấy vị thuốc ô tặc cốt hơi tanh, tuy nhiên vẫn rất dễ dùng.

Tham khảo: Cây ích mẫu điều trị rối loạn kinh nguyệt, bế kinh, tắc kinh

Nguồn tham khảo

  1. Đỗ Tất Lợi, Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam, Nxb Y học, 1999, trang 485.
  2. Nhiều tác giả, Cây thuốc và động vật làm thuốc ở Việt Nam, tập 2, NXB Khoa học và kỹ thuật, 2004, trang 1171.
  3. Mai mực làm thuốc, https://suckhoedoisong.vn/mai-muc-lam-thuoc-n92459.html , ngày truy cập 03 tháng 11 năm 2019.

Nếu thấy bài viết trên có ích, các bạn hãy chia sẻ trên Facebook cho người thân và bạn bè mình biết nhé. Cảm ơn bạn!


*Lưu ý: Tác dụng của sản phẩm có thể tùy thuộc vào cơ địa mỗi người

*Giá trên chưa bao gồm phí vận chuyển Bưu điện, tham khảo Giá cước vận chuyển

Gửi thuốc toàn quốc, giao thuốc tận nơi <---> Nhận thuốc rồi mới thanh toán tiền.

Gửi câu hỏi cần giải đáp:

GỌI
Messenger
Hỏi b.sĩ